HỌ ĐỖ VIỆT NAM TRONG CỘI NGUỒN LỊCH SỬ

  Con người có tổ có tông

Như cây có cội như sông có nguồn


        Con người ta ai cũng muốn biết nguồn của mình, của gia tộc mình, dân tộc mình  từ đâu mà sinh ra, từ đâu mà đến . Với mục đích làm sáng tỏ nguồn gốc tổ tiên họ Đỗ, hàng chục năm qua Nhóm nghiên cứu lịch sử do người sáng lập BLL họ Đỗ Việt Nam- phó giáo sư Đỗ tòng,  khới xướng và hướng dẫn tổ chức nhiều chuyến đi điền dã, khảo sát thực tế, tìm hiểu gia phả các dòng họ, các tư liệu thư tịch cổ (ngọc phả, thần phả, sắc phong,…) ở các nhà thờ, đình, chùa, miếu mạo. Các kết quả nghiên cứu được xuất bản thành sách
đã trở thànhdi sản văn hóa của dòng họ Đỗ và căn cứ quan trọng để nhà nước công nhận xếp hạng di tích miếu thờ, mộ Tổ họ Đỗ Việt Nam.

” Họ Đỗ- một cộng đồng người Việt cổ đã sống trên quê hương đất tổ này từ xa xưa, rất lâu đời”. Cội nguồn lịch sử họ Đỗ Việt Nam gắn liền với cội nguồn dân tộc.  Các di tích, thư tịch cũ còn lưu giữ không ít nơi đã khẳng định rõ họ Đỗ đã tồn tại gắn liền với nơi phát tích, sinh tụ của người Việt cổ trên vùng đất này ít nhất cách đây khoảng 5.000-6.000 năm, trước thuở lập nước Văn Lang, trước cả thời xác lập vua Hùng đời thứ nhất. Lần theo Ngọc phả hiện chúng ta được biêt biết những vị tổ tối cao của dân tộc Việt: 

1). Đế Hoà,, tức Hoà Hy hay còn gọi là Hy Thúc, Hy HoàHy Hoà . Cụ Hy Thúc là nhà thiên văn thuyết âm dương, làm ra lịch âm Việt Nam(2). Vợ của Hoà Hy là Nữ Hoàng Anh, hiệu Diệu Quang Minh.

2). Phục Hy (vua cả), đạo hiệu là Hư Không Giáo Chủ Đế Thiên Phục Hy. Cùng với bố là Đế Hoà, Cụ đã lập ra Kinh dịch đầu tiên. Cụ bà là cụ Trinh Nương, sinh ra vua Thần Nông.

3). Vua Thần Nông , vì vua có công dạy dân trồng cây lúa nước, mở ra kỷ nguyên văn minh lúa nước. Biểu tượng là chòm sao Thần Nông trên bầu trời.

Vợ cả của vua Thần Nông có miếu thờ ở làng Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Tây.

Hai Cụ sinh ra Tiên Đế hay Đế Tiết Vương.

4). Tiên Đế hay Đế Tiết Vương và vợ là Nữ Hoàng Vân, hiệu Diệu Lan, Hiện còn mộ và miếu thờ ở Gò Sở, Quang Lãm, Thanh Oai.

5). Đế Quý Công hay là Đế Thừa Sở Minh công là cháu của vua Thần Nông. Cụ bà là Đại Nương. Sở Minh Công thu phục 72 bộ lạc, được các động chủ, sơn quân tôn vinh Cụ là Chủ trưởng.

6). Nguyễn Minh Khiết, hiệu Thái Khương Công hay Khương Thái Công, tức là Đế Minh(cháu 4 đời của Thần Nông), đình Nghi Tàm Hà Nội đang thờ cụ. Cụ bà là người họ Đỗ, thường gọi là Đỗ Quí Thị. Sau khi nối tiếp cha làm chủ 72 bộ lạc, cụ giao quyền cho con trưởng (Kinh Dương Vương).  

Theo ” Cổ Lôi Ngọc Phả Truyền Thư”,  ” Bách Việt Tộc Phả” thì cụ bà họ Đỗ, tên huý là Ngoạn, còn gọi là công chúa Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch(3) vùng Nghi Tàm (cụ Long Đỗ về sau còn được gọi là Thần Bạch Mã, một trong tứ trấn Thăng Long thành, thờ ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, Hà Nội).

Cụ tu theo đạo Sa Bà, đạo của Đế Thiên Phục Hy Hư Không giáo chủ cách đây khoảng 5.000 năm. Cụ sinh mồng 8 tháng Tư âm lịch, hoá ngày 15 tháng Bảy âm lịch ở Nội Tích, Đại Lôi (Ba La). Mộ táng ở Ba Lôi trong chùa Bồ tát Đa tát, Ba La. Dân thờ cụ ở chùa Đại Bi. Tên hiệu của Cụ là Tín Thiền Sư, Hương Vân Cái bồ tát.

Hai Cụ sinh ra Lộc Tục (Kinh Dương Vương, còn gọi là Vua cha Ngọc hoàng Thượng đế). Miếu thờ Cụ ở làng La Cả, La Khê (gần Ba La).

Gò thiềm thừ ở vùng Ba La – tỉnh Hà Tây, theo phả cũ đây là mộ của Bát bộ Kim Cương

Cụ Đỗ Quý thị có 8 người em trai là Bát Bộ Kim Cương.  Mộ 8 vị này ở gò Thiềm Thừ (nghĩa là gò Con Cóc) vùng Ba La.

Do có sự bất hoà với chồng ( Đế Minh), Cụ đã đem con trai là Lộc Tục (khi còn ít tuổi) vào tu động Tiên Phi (thường gọi là Động Tiên) ở huyện Lạc Thuỷ thuộc tỉnh Hoà Bình ngày nay, cùng với 8 em trai của Cụ giúp cho Lộc Tục Trưởng thành: Cụ theo đạo Bà La môn, đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám vị em trai đều là người tài giỏi, hết lòng giúp cháu(con của chị) cho đến khi Lộc Tục được cha là Đế Minh giao quyền thay cha trị vì đất nước, lấy hiệu là Kinh Dương Vương (được tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế), đặt tên là Xích Quỷ.

Tám vị mà Lộc Tục gọi là cậu ( em mẹ) sau đều trở thành các vị “Kim Cương”, thường được gọi là Bát Bộ Kim Cương và mang Phật hiệu, gồm:

1-Đỗ Xương, hiệu Thanh Trừ Tai Kim Cương;

2- Đỗ Tiêu, hiệu là Tịch Độc Thận Kim Cương;

3- Đỗ Kỷ, hiệu là Hoàn Tuỳ Cầu Kim Cương;

4- Đỗ Cương, hiệu là Bạch Tịnh Thuỷ Kim Cương;

5-Đỗ Chương, hiệu là Xích Thanh Hoả Kim Cương;

6-Đỗ Dũng, hiệu là Định Trừ Tai Kim Cương;

7- Đỗ Bích, hiệu là Tử Hiền Thần Kim Cương;

8- Đỗ Trọng, hiệu là Đại Thần Lục Kim Cương.                                   

Bia con cóc Mộ của 8 vị này ở gò Thiềm Thừ   (con cóc tía) ở vùng Ba La, cách mộ cụ bà Đỗ Quý thị mấy trăm mét đường chim bay. Trước đây gò này còn hai bia đá, trụ vuông, trên đỉnh trụ bia có con cóc ôm quả địa cầu, tượng trưng là “Cậu Ông Trời” (Ngọc Hoàng Thượng Đế). Bốn mặt bia đề bốn câu chữ Hán.

     Phiên âm chữ Hán: 

 – Phương phần bảo vật

– Vạn cổ nghiễm nhiên

– Chi hạng lưu hương

– Thiên thu thường tại.

Lời dịch của La Sơn Phù Tử Nguyễn Thiếp năm 1789: 

– Lối cũ dấu thơm

 – Nghìn xưa vẫn đó

– Cây to báu vật 

 – Muôn thuở còn đây.

Bia Con Cóc

 Do biến động của lịch sử hai bia này đã bị di chuyển và nay vẫn còn nằm trên bờ sông Nhuệ thuộc làng Cự Khê. (Những năm vừa qua, băng nguồn kinh phí do bà con họ Đỗ cung tiến chúng ta đã tôn tạo được Miếu mộ cụ Đỗ Quí Thị và mộ Bát Bộ Kim Cương bề thế. Trong đó chế tác 02 bia con cóc bằng đá  giống như bnả gốc đặt ở gò Thiềm Thừ)

 Tiếp theo dòng lịch sử đất nước, qua các thế hệ thời Hùng về sau cũng còn để lại di tích về những nhân vật lịch sử họ Đỗ tiêu biểu như:

  Thời Hùng Vương thứ Sáu có Đỗ Phụng Chân ở trang Khê Kiều, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình ngày nay, đã có công đánh giặc Ân, được dân làng tôn làm Thành Hoàng.

  Thời Hùng Nghị Vương (Hùng Vương thứ 17) ở trang Nhân Lý, nay là làng Tiểu Quan ( Châu Giang, Hưng Yên) có một gia đình họ Đỗ (Đỗ Quang) gồm 3 người con đã có công giúp nước, trong đó có một con gái.

Thời Hùng Vương thứ 18 ở trang Cổ Tiết ( Thái Bình) có gia đình Đỗ Công Điềm và ba con trai Đỗ Quân Tấu , Đỗ Lục Lang, Điền Khánh và con gái là Liên Nương đã có công chống giặc, giúp dân, được suy tôn làm Thành Hoàng làng, hiện vẫn tiếp tục được thờ phụng.

 Từ đầu Công nguyên, nhất là từ thời Hai Bà Trưng, càng về sau danh sách các nhân vật họ Đỗ được ghi tên trong sử sách ngày càng nhiều, nhưng do thời gian có hạn chúng tôi không thể liệt kê.

Hiện nay, họ Đỗ Việt Nam đã phát triển thành một công đồng rộng lớn, định cư ở hầu hết các vùng, các địa phương trong nước, từ miền cực Bắc đến tận Cà Mau, ước tính khoảng 8 triệu người. Về tổ chức ngoài HĐHĐVN, cả nước  hiện có  25 thành phố và khu vực thành lập được Hội đồng họ Đỗ Việt Nam, hơn 400 dòng họ Đỗ trên cả nước tham gia BLL họ Đỗ Việt Nam. Từ ngày thành lập đến nay hàng năm chức họp mặt truyền thống luân phiên ở nhiều nơi trên cả nước. Lần họp mặt lần thứ 18 trên đất Tổ vua Hùng chúng ta cùng ôn lại lịch sử vẻ vang của dòng họ. Lần họp mặt lần thứ 19 tại Kim Quan, Thạch Thất,Hà Nội. Lần họp mặt lần thứ 20 tại Tp. Thanh Hóa, Lần họp mặt lần thứ 21 được tổ chức tại Dinh Độc Lập ngày 31/03 & 01/04/2018 tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Đỗ Quang

Nguồn: hodovietnam.vn

0 Đỗ (杜)